Bảng Tra Trọng Lượng Thép Hình Chuẩn 2026 Theo V, U, I, H, C

Ngày cập nhật cuối cùng 17/04/2026 bởi Trần Kim Tuấn

Bảng tra trọng lượng thép hình là bảng quy đổi giúp xác định nhanh khối lượng lý thuyết của thép hình V, U, I, H, C theo mét dài hoặc theo cây 6 m, 12 m. Cập nhật 04/2026, bài này tập trung vào kích thước danh nghĩa, diện tích mặt cắt, trọng lượng thép theo mét dàidung sai kích thước để bóc khối lượng chính xác hơn.

Bảng tra nhanh trọng lượng thép hình phổ biến

bảng tra trọng lượng thép hình - hình minh họa 1
bảng tra trọng lượng thép hình – hình minh họa 1

Bảng dưới đây đủ để bóc khối lượng sơ bộ cho phần lớn nhu cầu nhà thép, sàn thao tác, khung đỡ thiết bị và gia công cơ khí.

bảng tra trọng lượng thép hình cho thép V U I H phổ biến
Bảng tra trọng lượng thép hình cho thép V U I H phổ biến

Các trị số thép hình V trong bảng này lấy từ tài liệu gốc bạn cung cấp; các trị số nhóm U, I, H được đối chiếu theo Orange Book của ArcelorMittal để tiện so sánh trên cùng một mặt bằng kỹ thuật.

Loại Ký hiệu tra nhanh Kích thước danh nghĩa h / cạnh (mm) b (mm) Chiều dày bụng tw (mm) Chiều dày cánh tf hoặc t (mm) Diện tích mặt cắt (cm²) Trọng lượng thép theo mét dài (kg/m) Khối lượng cây 6 m (kg)
Thép hình V V50x50x5 V đều cạnh 50 50 5.0 4.80 3.77 22.62
Thép hình V V65x65x6 V đều cạnh 65 65 6.0 7.53 5.91 35.46
Thép hình V V100x100x10 V đều cạnh 100 100 10.0 19.20 15.00 90.00
Thép hình U UPN100 U cán nóng 100 50 6.0 8.5 13.50 10.60 63.60
Thép hình U UPN120 U cán nóng 120 55 7.0 9.0 17.00 13.40 80.40
Thép hình U UPN160 U cán nóng 160 65 7.5 10.5 24.00 18.80 112.80
Thép hình I IPE100 I cánh song song 100 55 4.1 5.7 10.30 8.10 48.60
Thép hình I IPE120 I cánh song song 120 64 4.4 6.3 13.20 10.40 62.40
Thép hình I IPE160 I cánh song song 160 82 5.0 7.4 20.10 15.80 94.80
Thép hình H HEA100 H cánh rộng 96 100 5.0 8.0 21.20 16.70 100.20
Thép hình H HEA120 H cánh rộng 114 120 5.0 8.0 25.30 19.90 119.40
Thép hình H HEA160 H cánh rộng 152 160 6.0 9.0 38.80 30.40 182.40

⚠️ Lưu ý: Cùng ghi “160” nhưng UPN160, IPE160 và HEA160 không thể thay thế cho nhau chỉ vì chiều cao bụng gần nhau. Hình học cánh, bụng và diện tích mặt cắt khác nhau nên tải trọng, độ võng và khối lượng đều khác.

Nếu bạn đang lập dự toán nhanh, hãy lấy kg/m trong bảng trước rồi mới nhân chiều dài thực. Cách làm này giảm sai số tốt hơn so với ước lượng theo “cây nhẹ”, “cây nặng” ngoài bãi.

Đọc đúng kích thước danh nghĩa trước khi tra bảng

Tra đúng bảng bắt đầu từ việc đọc đúng tên tiết diện và đúng thứ tự kích thước trên mill test hoặc báo giá nhà máy.

Ở Việt Nam, bộ TCVN 7571:2019 cho thép hình cán nóng được xây dựng trên cơ sở JIS G3192:2014, nên cách biểu diễn kích thước hình học và logic tra bảng giữa TCVN và JIS khá gần nhau.

  • Loại tiết diện: thép hình V, thép hình U, thép hình I, thép hình H, thép hình C.
  • Kích thước danh nghĩa: tên gọi thương mại dùng để nhận diện nhanh tiết diện.
  • Chiều cao bụng: khoảng cách theo phương đứng của phần bụng tiết diện.
  • Chiều rộng cánh: bề rộng của bản cánh hai bên tiết diện.
  • Chiều dày bụng và chiều dày cánh: thông số ảnh hưởng trực tiếp đến diện tích mặt cắt.
  • Diện tích mặt cắt: cơ sở để suy ra trọng lượng thép theo mét dài.

Kích thước danh nghĩa: tên gọi như V65x65x6, UPN160 hay IPE120. Đây là điểm bắt đầu, không phải luôn là kích thước đo thực tế ngoài bãi.

Chiều cao bụng: dùng nhiều nhất với thép hình U, I, H, C. Thông số này chi phối mạnh khả năng chịu uốn theo trục chính.

Chiều rộng cánh: quan trọng khi chọn liên kết bản mã, bản đế và bu lông. H cùng chiều cao nhưng cánh rộng hơn sẽ nặng hơn rõ rệt.

Chiều dày bụng: ảnh hưởng đến ổn định cục bộ của bụng, khả năng chịu cắt và dung sai cho phép khi cán nóng.

Chiều dày cánh: quyết định một phần lớn diện tích mặt cắt. Khi cánh tăng dày, khối lượng tăng rất nhanh.

Diện tích mặt cắt: là biến số trung tâm để tính khối lượng lý thuyết. Với thép carbon thông dụng, 1 cm² tiết diện tương ứng khoảng 0,785 kg/m.

Công thức thực hành nên dùng là: kg/m = A × 0,785, trong đó A là diện tích mặt cắt tính bằng cm². Với UPN160 có A = 24,0 cm², khối lượng lý thuyết là 24,0 × 0,785 = 18,84 kg/m, gần khớp trị số 18,8 kg/m trong bảng.

Với V100x100x10 có A = 19,2 cm², khối lượng lý thuyết ra khoảng 15,07 kg/m. Khi bảng ghi 15,0 kg/m, chênh lệch làm tròn là bình thường và không nên xem là sai số vật tư.

Cùng cao 160 mm, vì sao H nặng gần gấp đôi I?

Cùng nhóm chiều cao khoảng 160 mm, HEA160 nặng 30,4 kg/m, UPN160 nặng 18,8 kg/m và IPE160 nặng 15,8 kg/m vì vật liệu được phân bố rất khác ở cánh và bụng.

Thép hình H có chiều rộng cánh lớn và chiều dày cánh dày hơn, nên diện tích mặt cắt tăng mạnh. IPE160 chỉ có A = 20,1 cm², trong khi HEA160 lên đến 38,8 cm². UPN160 đứng giữa, phù hợp khi cần liên kết cạnh hoặc làm dầm phụ hơn là cột chính.

Video nhận diện nhanh thép hình H I U V
Video nhận diện nhanh thép hình H I U V

Video hữu ích để nhận diện nhanh H, I, U, V trước khi tra bảng và đối chiếu báo giá ngoài thị trường.

Nếu mục tiêu là tối ưu khối lượng, I thường kinh tế hơn H ở bài toán dầm nhịp vừa. Nếu mục tiêu là tăng độ ổn định cột, H lại có lợi thế vì cánh rộng và mô men quán tính theo trục yếu tốt hơn.

Trong một hạng mục sàn thao tác mà chúng tôi từng hỗ trợ, đội thi công định thay toàn bộ HEA160 bằng IPE160 để giảm tải nâng lắp. Khối lượng giảm hơn 14 kg cho mỗi mét, nhưng sau khi kiểm tra lại tải tập trung tại vị trí đặt motor, phương án này không còn an toàn cho độ võng làm việc.

Ở một xưởng cơ khí khác, nhà thầu chọn UPN160 thay cho IPE160 vì cho rằng “cao 160 thì như nhau”. Sai lầm nằm ở chỗ liên kết bụng hở của U làm bản mã đỡ thiết bị xoay khó hơn, thời gian canh chỉnh tăng đáng kể dù khối lượng chỉ chênh khoảng 3 kg/m.

Thép hình C, SS400 và Q235B ảnh hưởng thế nào đến khối lượng?

SS400 hay Q235B không tự làm đổi trọng lượng lý thuyết nếu hình học giữ nguyên; phần gây lệch nhiều hơn thường là dung sai kích thước, chiều dài giao thực tế và lớp phủ bề mặt.

JISC liệt kê JIS G3101 là tiêu chuẩn cho thép cán nóng dùng trong kết cấu thông thường, nơi mác SS400 xuất hiện rất nhiều trên chứng chỉ vật liệu. Phía Trung Quốc công bố tiêu chuẩn GB/T trên cổng chuẩn quốc gia, và trong thực tế nhập khẩu, Q235B là ký hiệu người mua gặp khá thường xuyên.

Thép hình C là trường hợp dễ bóc sai nhất vì nhiều lô hàng là C chấn thành mỏng, không phải C cán nóng nặng. Với loại này, chênh lệch khối lượng giữa các bề dày rất rõ, nên không thể chỉ đọc “C150” rồi ước lượng theo kinh nghiệm.

Bảng dưới đây dùng dữ liệu từ catalog C purlin của Ruukki. Đây là nhóm C chấn mạ kẽm dùng cho xà gồ, tường và khung phụ, khác bản chất với UPN hay IPE cán nóng.

Ký hiệu thép hình C H (mm) A (mm) B (mm) C (mm) Trọng lượng thép theo mét dài (kg/m) Khối lượng cây 6 m (kg)
LP-C100x1.5 100 46 40 ≥16.50 2.45 14.70
LP-C120x2.0 120 47 41 ≥18.00 3.61 21.66
LP-C150x2.0 150 47 41 ≥18.00 4.08 24.48
LP-C200x2.0 200 71 63 ≥25.00 5.81 34.86
LP-C250x2.5 250 72 64 ≥26.00 8.20 49.20
LP-C300x3.0 300 92 84 ≥25.50 11.89 71.34

Khi đọc chứng chỉ vật liệu, tôi thường kiểm tra 5 điểm trước khi chốt khối lượng mua:

  • đúng loại tiết diện cán nóng hay chấn nguội;
  • đúng mác thép như SS400 hoặc Q235B;
  • đúng chiều dài giao hàng thực tế;
  • đúng dung sai kích thước nhà máy công bố;
  • đúng trạng thái bề mặt, có mạ hay không.

Chúng tôi từng gặp một lô U200 ghi SS400 nhưng tổng cân thực tế thấp hơn lý thuyết gần 1,8%. Nguyên nhân không nằm ở việc “thép rởm”, mà do chiều dài mỗi thanh thiếu vài centimet và bề dày nằm ở rìa dưới của dung sai kích thước cho phép.

Trường hợp khác là lô C chấn cho mái nhà xưởng. Bên đặt hàng bóc theo kinh nghiệm của U cán nóng nên đặt dư gần nửa tấn. Sau khi chuyển sang bảng kg/m đúng của C purlin, sai số đặt hàng giảm mạnh và khâu cẩu lắp cũng nhẹ hơn dự kiến ban đầu.

Quy trình bóc khối lượng để không đặt thiếu thép

Quy trình an toàn nhất là tra kg/m trước, nhân chiều dài thực sau, rồi cộng hao hụt gia công theo biện pháp thi công của từng hạng mục.

  1. Chốt đúng tiết diện.

Tách rõ thép hình V, thép hình U, thép hình I, thép hình H, thép hình C ngay từ bản vẽ và yêu cầu mua hàng.

  1. Tra đúng kg/m theo ký hiệu tiêu chuẩn.

UPN, IPE, HEA và C purlin là các hệ khác nhau. Cùng số “100” hay “160” không có nghĩa là cùng trọng lượng.

  1. Nhân với chiều dài thực.

Nếu hàng cắt lẻ, dùng chiều dài cắt thật. Nếu đặt theo cây 6 m hoặc 12 m, quy đổi theo số cây rồi đối chiếu lại với tổng mét dài.

  1. Tách riêng phần phụ kiện.

Bản mã, sườn tăng cứng, bu lông, lớp mạ kẽm nhúng nóng và sơn chống cháy không nằm trong kg/m của bảng tra thép hình.

  1. Kiểm tra lại khi nhập kho.

Đo ngẫu nhiên chiều dài, kiểm tra chiều dày bụng, chiều dày cánh và đối chiếu phiếu cân xe nếu lô hàng có khối lượng lớn.

Với thép hình cán nóng, tôi thường khuyên đội mua hàng dùng bảng tra để khóa giá trị lý thuyết, sau đó cho phép sai lệch nghiệm thu theo hồ sơ kỹ thuật của từng lô. Cách này tránh tranh cãi giữa bộ phận dự toán, xưởng gia công và nhà cung cấp.

Nếu công trình có cả cột, dầm và xà gồ, nên tách bảng bóc thành ba nhóm. H hoặc I cho dầm cột, U cho gối đỡ và thanh biên, C cho cấu kiện phụ. Tách như vậy giúp nhìn sai số khối lượng rõ hơn rất nhiều.

Câu Hỏi Thường Gặp

Bốn câu dưới đây là nhóm thắc mắc gặp nhiều nhất khi tra bảng cho báo giá, bóc tách khối lượng và kiểm hàng ngoài bãi.

Một cây thép hình 6 m tính khối lượng thế nào?

Lấy kg/m trong bảng rồi nhân 6. Ví dụ IPE120 là 10,4 kg/m thì một cây 6 m nặng khoảng 62,4 kg; UPN160 là 18,8 kg/m thì một cây 6 m khoảng 112,8 kg.

Thép hình H và thép hình I khác nhau ở điểm nào khi tra bảng?

Khác lớn nhất nằm ở chiều rộng cánh, chiều dày cánh và diện tích mặt cắt. Cùng cỡ 160, HEA160 nặng 30,4 kg/m còn IPE160 chỉ 15,8 kg/m, nên không thể đổi qua lại chỉ theo chiều cao bụng.

SS400 và Q235B có dùng chung bảng trọng lượng được không?

Có thể dùng chung nếu hình học tiết diện hoàn toàn giống nhau. Khối lượng lý thuyết phụ thuộc vào diện tích mặt cắt và khối lượng riêng thép, không phụ thuộc trực tiếp vào tên mác; phần cần kiểm tra thêm là dung sai kích thước và chứng chỉ lô hàng.

Nên lấy theo kg lý thuyết hay kg cân thực tế khi thanh toán?

Với dự toán và bóc tách ban đầu, nên khóa theo kg lý thuyết từ bảng tra. Khi nghiệm thu thanh toán, hãy theo điều khoản hợp đồng, phiếu cân và giới hạn dung sai đã thỏa thuận để tránh thiếu hoặc dư vật tư ở giai đoạn cuối.

Bảng tra trọng lượng thép hình chỉ phát huy hết giá trị khi đi cùng chiều dài thực, dung sai kích thước và chứng chỉ lô hàng. Trước khi chốt mua, hãy tra đúng tiết diện V, U, I, H, C rồi quy đổi lại theo cây 6 m hoặc 12 m để khóa khối lượng sát thực tế hơn.



Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *